Nên Học Bách Khoa Hay Công Nghiệp? Trường Nào Hơn

Published on 25 Tháng Mười Hai, 2018

Bất cứ ai khi quyết định học tập một ngành nghề nào cũng vậy, đều muốn kiếm cho mình một mức lương cao, thu nhập ổn định và làm tăng giá trị cuộc sống của chính bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chúng ta nhắc đến hai trường đại học nổi tiếng với đầu vào chất lượng cao (tỷ lệ chọi để vào trường thường cao khiến nhiều bạn học sinh ao ước và phấn đấu cũng như lo lắng để có thể đỗ đạt vào trường) đó chính là trường đại học Bách Khoa và trường đại học Công Nghiệp thì chúng ta cần hiểu đơn giản Bách Khoa và Công Nghiệp học về lĩnh vực nào?

Đầu tiên phải kể đến Bách Khoa, đây là một ngôi trường lâu đời với những chuyên ngành về công nghệ và kỹ thuật (Kỹ thuật phần mềm, kỹ thuật máy tính, cơ khí, kỹ thuật ô tô, kỹ thuật hàng không, kỹ thuật tàu thủy, công nghệ thông tin…) là chủ yếu, thế nhưng chúng ta lại đem Bách Khoa đi so sánh với trường Công Nghiệp với những chuyên ngành về kinh tế học. Vậy chúng ta cần hiểu rằng mức lương khác nhau còn dựa vào giá trị sức lao động bạn bỏ ra chứng không phải so sánh ngang bằng tương đương về ngành học hay chất lượng của sinh viên học tại hai trường đại học có giống nhau hay không. Chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định những sinh viên học tập tại Bách Khoa và Ngoại Thương đều là những sinh viên suất sắc ngay từ khi được tuyển chọn vào trường, nên việc so sánh khả năng học tập cao tương đương nhau giữa hai trường thì sẽ có một mức lương tương đương nhau được. Chúng ta đều biết rằng việc tính tiền lương được dựa trên một thước đo mang tên “thước đo giá trị sức lao động”. Có thể hiểu đơn giản như thế này, đối với một sinh viên đại học Bách Khoa ra trường sẽ kiếm được một mức lương cao với nghề lập trình viên chẳng hạn, cao hơn hẳn một nhân viên ngân hàng là sinh viên trường ngoại thương mới ra trường vì giá trị mà anh lập trình viên tạo ra cho xã hội cao hơn hẳn anh làm nhân viên ở ngân hàng.

Nhắc đến kinh tế học, chúng ta không thể bó buộc nó trong một chuỗi lý thuyết khô khan như khái niệm của nó chẳng hạn. Thế nên kinh tế học chẳng thể bó buộc trong những tiết học trên giảng đường mà còn tồn tại khắp mọi nơi trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Đương nhiên nó cũng sẽ ảnh hưởng tới những gì mà chúng ta nhìn thấy xung quanh mình thậm chí là cả trên phim ảnh.

Chúng ta sẽ cùng nhau đi giải đáp bài toán khó nhằn trong thực tế sau: Trong khi sinh viên trường đại học ngoại thương đang loay hoay không biết phải làm sao để có được mức thu nhập trên 20 triệu VND/ tháng thì mức lương của dân Bách khoa đã có thể nhận được mức lương lên đến 60 triệu VND/ tháng.

Vậy theo các nhà kinh tế sẽ nhìn nhận vấn đề này như thế nào ? và giải quyết bài toán này ra sao?

Khi chúng ta nhìn nhận theo quan điểm của các nhà kinh tế học thì bài toán trên là hoàn toàn tự nhiên, nó tất nhiên đến mức chẳng khác nào chúng ta đi chứng minh mặt trời mọc ở hướng đông và lặn ở hướng tây cả. Thật vậy, dưới cái nhìn của các nhà kinh tế học thì giá trị của những ngành sản xuất là cao hơn thế nên nhân lực của ngành đó xứng đáng được nhận một mức lương cao từ xã hội.

Còn bây giờ hãy cùng nhau đi giải quyết bài toán trên nhé! Đặt giả sử rằng “Khoa tốt nghiệp đại học Bách Khoa với tấm bằng đại học chính quy, sau khi ra trường Khoa được làm lập trình viên tại một công ty A với một mức lương hậu hĩnh là 60 triệu VND/ tháng. Còn đối với Thương, cô là một sinh viên tốt nghiệp đại học Ngoại Thương cũng với tấm bằng đại học chính quy, sau khi ra trường Thương được làm nhân viên tại ngân hàng B với mức lương là 16 triệu VND/ tháng”. Bạn có cảm thấy ngạc nhiên không? Đừng quá ngạc nhiên nhé vì bây giờ chúng ta sẽ giải tiếp bài toán này dưới góc nhìn của các nhà kinh tế học với các thuyết giá trị sức lao động.

Hãy tập trung vào các lý thuyết kinh tế về tiền lương, chúng ta sẽ đề cập đến khái niệm về chức năng thước đo giá trị sức lao động. Khái niệm này chỉ ra rằng tiền lương là biểu thị bằng hiện vật của giá trị mà sức lao động tạo ra đồng thời tiền lương cũng là biểu thị của giá cả trả cho sức lao động đã bỏ ra. Nhìn nhận vấn đề theo một hướng đơn giản là trong xã hội hiện nay việc nhận lương theo năng lực hưởng theo giờ làm thì khi bạn tạo cho xã hội càng nhiều giá trị thì tiền lương bạn nhận về đương nhiên là khoản tiền xứng đáng với công sức mà bạn bỏ ra và ngược lại, khi giá trị bạn tạo ra càng thấp thì lương của bạn cũng chẳng cao hơn được.

Hãy cùng quay trở lại với mức lương của anh Khoa và chị Thương. Lý do mà chúng ta có thể giải thích cho việc anh chàng học Bách Khoa có lương cao hơn mức lương mà cô nàng học Ngoại Thương nhận được đó chính là vì xã hội đã nhìn nhận rằng, chính các ngành sản xuất, chế tạo thực chất đã tạo ra những sản phẩm thực tế ( như thép, ô tô, đồ gia dụng, máy móc, robot…và cả phần mềm, ứng dụng ) thì chắc chắn sẽ tạo ra giá trị thực tiễn cao hơn hẳn các ngành mang tính chất trung gian vận chuyển tiền tệ từ nơi này sang nơi khác như ngành tài chính, ngân hàng nên mức lương chênh lệch nhau cũng chẳng lấy gì làm lạ.

Đối với ngành của Khoa, đó là ngành tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế hay còn gọi là ngành xương sống của nền kinh tế.

Theo Karl Marx, nhân tố lao động là một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất hàng hóa mới trong nền kinh tế. Nó tạo nên giá trị thặng dư sản xuất từ những nguyên liệu thô ban đầu làm tăng giá trị của món hàng hóa đó lên kể cả giá trị sử dụng lẫn giá trị về tiền. Nghĩa là khởi nguồn của kinh doanh một món hàng hóa là việc tạo ra hàng hóa đó bằng sức lao động được coi là thặng dư sản xuất (lợi nhuận) cho nên sản xuất chính là xương sống tạo ra giá trị cho cả nền kinh tế.

Hiện nay ở các nước trên thế giới chúng ta có thể nhận thấy rằng chính các ngành sản xuất mới tạo nên giá trị nền tảng cốt lõi cho nền kinh tế quốc gia, đơn giản chỉ là sản xuất tạo nên giá trị thực tiễn chứ không phải những thuật ngữ mà chúng ta thường mất nhiều thời gian và giấy mực của các nhà kinh tế học khi đi lý giải chúng như là tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh, marketing, thương mại hay là luật….

Tại nước Mỹ, nếu bạn muốn làm một công việc ở đâu đó có số tiền cao hơn so với làm việc ở phố Wall thì đó chính là đi làm nông dân. Nghe thực sự phi lý phải không? Vì trong khi người nông dân ở Việt Nam miệt mài cày cấy tạo ra giá trị nhưng mức lương của họ thứ nhất là không ổn định, thứ hai là mức thu nhập của họ kém xa một nhân viên hành chính thông thường. Nhưng điều khác biệt ở đây là người nông dân ở Mỹ áp dụng những công nghệ kỹ thuật tiên tiến chứ không phải làm chân tay thủ công quá nhiều như người nông dân Việt Nam, năng suất lao động cao hơn và chất lượng cũng rất tốt.

Thật vậy, câu chuyện kể trên hoàn toàn không phải là không có cơ sở khi phố Wall hoa lệ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng toàn cầu thì những người nông dân Mỹ vẫn có thu nhập tăng đều đặn.

Hay ở nước Đức, các ngành sản xuất hàng hóa luôn được chú trọng, đó chính là tinh hoa của nền kinh tế Đức.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nước Đức tập trung phát triển vào các ngành sản xuất hàng hóa chứ không phải là các ngành tài chính, du lịch hay các ngành khác mà tập trung vào sản xuất hàng hóa. Với mục tiêu đặt ra là sản xuất tạo nên giá trị thực cho nền kinh tế. Các sản phẩm của nước Đức khi được làm ra đã đạt đến mức mà khi nhắc đến hàng hóa uy tín người ta thường nhắc đến hàng hóa của Đức.

Điều đó đương nhiên cũng sẽ dẫn đến một kết quả cuối cùng chính là các kỹ sư có tay nghề cao sẽ được trả mức lương hậu hĩnh vì thế các học sinh của nước Đức khi tốt nghiệp phổ thông đã không lựa chọn Đại Học như là con đường duy nhất để dẫn đến thành công. Phân nửa trong số họ lựa chọn vào học tại các trường nghề để được đào tạo trở thành một kỹ sư với việc học đi liền với thực hành chứ không phải cố gượng ép bản thân học tập tại các trường đại học.

Trên đây là hai ví dụ điển hình từ hai nền kinh tế lớn mạnh và nổi tiếng. Ngoài ra, chúng ta còn có thể kể thêm rất nhiều ví dụ để chứng minh cho tính xương sống của sản xuất trong nền kinh tế như việc đất nước Nhật Bản trở mình mạnh mẽ nhờ vào các sản phẩm công nghệ cao (Nhật Bản đi tắt đón đầu trong việc mua lại những sản phẩm tiên tiến trên thế giới và nghiên cứu nâng cấp sản phẩm đó), hay cách mà ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa tại Hàn Quốc thống trị thị trường nhờ vào các ngành công nghiệp đóng tàu, sản xuất điện thoại,…

Đối với ngành của Thương, ngành ngân hàng với sự chu chuyển tiền tệ từ nơi này sang nơi khác

Bản chất của ngân hàng trong nền kinh tế là trung gian tài chính chịu trách nhiệm chu chuyển tiền tệ trong lưu thông, sự phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của quốc gia. Thật vậy, Ngân hàng huy động nguồn tiền nhàn rỗi của người dân để cho các doanh nghiệp vay vốn xoay vòng để tiếp tục sản xuất. Hay chúng ta có thể thấy rằng nếu như không có giao thương buôn bán trao đổi hàng hóa thì giá trị của hàng hóa chỉ được thể hiện trên khía cạnh tự cung tự cấp, thế nên việc góp mặt của tài chính là điều không thể thiếu được. Tuy nhiên nói đi thì cũng phải nói lại, ngân hàng tuy là chất bôi trơn nhưng đến cuối cùng vẫn chỉ là chất bôi trơn mà thôi. Trên thực tế, các ngân hàng ngày nay đã trở nên quá lớn mạnh đến mức mà những gì họ làm chỉ là chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác, di chuyển sự giàu có từ khu vực kinh tế này sang khu vực kinh tế khác. Một chuỗi công việc lặp đi lặp lại và không hề có chút sáng tạo nào trong công việc cả, hơn thế nữa những ngành này phải áp dụng những phần mềm tiên tiến để có thể thao tác một loạt những nghiệp vụ nhỏ lẻ của mình.

Thay vì mở rộng quy mô cho nền kinh tế thì sự xuất hiện càng nhiều chi nhánh của ngân hàng chỉ làm tăng thị phần của ngân hàng đó trên thị trường.

Hay chúng ta có thể nhắc đến một ngành khác trong nền kinh tế mà không phải ngân hàng, đó chính là ngành luật. So sánh số luật sư tại Mỹ so với Nhật Bản chúng ta có thể thấy rằng con số gấp 17 lần. Nhưng chúng ta đâu có thể lấy điều đó để nhận xét rằng Mỹ tạo ra nhiều giá trị hơn Nhật Bản? Hay hiểu đơn giản là sự tăng lên của nhân lực trong ngành sản xuất sẽ làm tăng giá trị của nền kinh tế trong khi đó sự tăng trưởng của nhân viên ngân hàng cũng chẳng ảnh hưởng đến số tiền người dân gửi tiết kiệm hay số tiền mà doanh nghiệp vay cả.

Từ đó ta rút ra được kết luận là mức lương của Thương là 16 triệu đồng/tháng là hợp lý, nó phản ánh đúng những giá trị mà cô nhân viên ngân hàng này đem lại cho xã hội, cho nền kinh tế.

Lời kết

Nhìn chung đối với bất kỳ nền kinh tế nào cũng vậy, việc tạo nên giá trị cốt lõi cho nên kinh tế thì thuộc về sản xuất còn việc kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ như ngân hàng thì là chất bôi trơn tạo ra giá trị từ việc nhận nguồn tiền nhàn rỗi trong nhân dân để cho người khác vay nhằm tạo ra thu nhập hay sự chu chuyển tiền tệ từ quốc gia này sang quốc gia khác thông qua hệ thống liên ngân hàng. Đó, chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của ngân hàng vì những lợi ích nó mang lại hoàn toàn không nhỏ chút nào.

Cứ coi như nền kinh tế Việt Nam đang được diễn ra đúng như giả thuyết của các nhà kinh tế học thì việc một kỹ sư tốt nghiệp trường Bách Khoa sẽ tạo ra cho nền kinh tế nhiều hơn một nhân viên ngân hàng tốt nghiệp đại học Ngoại Thương. Vì thế nên người kỹ sư hưởng mức lương 60 triệu VND / tháng còn nhân viên ngân hàng vẫn còn đang xoay sở để có được mức lương 20 triệu VND / tháng.

Cuối cùng, Bất cứ mắt xích nào trong nền kinh tế cũng rất quan trọng, Việc bạn lựa chọn một công việc với mức lương cao hay một công việc đam mê với nguồn cảm hứng bất tận. Ghi nhớ điều này, mọi sự so sánh đều là khập khiễng, đừng chỉ vì dựa trên đồng lương mà phủ nhận giá trị của các ngành tài chính ngân hàng, luật đem lại cho nền kinh tế.

Chúc các bạn thành công!

Enjoyed this video?
"No Thanks. Please Close This Box!"